Guillotière

Thân ái kính tặng đồng chí Su Bông, người đã chiến đấu anh dũng (nhưng chưa hi sinh) cùng Lycamobile suốt một thời gian dài ở Guillotière

Guillotière nằm ở quận 7 Lyon, dù không nằm ngoài ngoại ô như Vaulx en Velin nhưng vẫn, nổi tiếng là một khu lộn xộn. Guillotière có phố Tàu bé tí với vài con đường, mấy tiệm ăn và 4-5 siêu thị mini bán đồ Á, có hàng cắt tóc giá rẻ của mấy anh Ả Rập, có tiệm bán thịt gắn dấu Halah khoanh tròn, có cả một lực lượng digan đông đảo lang thang, vạ vật tựa lưng vào nhà thờ Thánh André trên đường Marseille. Guillotière là nơi mà người ta phải chú ý đến túi xách của mình khi bước ra đường. 

Ngay cửa Metro và bến tàu điện là một siêu thị Casino với hai cánh cửa bé tí, bốn quầy tính tiền cũng bé tí và chỉ mở đủ cả bốn vào giờ cao điểm. Một bữa đang đứng trước quầy hải sản, tôi giật mình vì giọng lơ lớ của một người đàn ông chừng tuổi 40, gầy quắt, da sạm nắng nhưng mặt thì ngây thơ như con trẻ. Ông chỉ tay vào tủ hải sản rồi gọi tên từng thứ: tôm, sò điệp, cá hồi, cá truite… mà chữ nào cũng lên giọng vào âm cuối. Rồi ông quay sang quầy rau, cầm cà rốt lên ngửi ngửi, mắt vẫn sáng và gọi tên nó như gọi người quen. Ông nhảy chân sáo rồi biến mất vào một rừng hàng hóa bên trong. Với 2 quầy tính tiền và lực lượng bảo vệ đứng chặn ở cửa, người ra vào ở Casino phải xếp hàng dài, nhưng khác với Casino ở Bron, ở đây, ai cũng chỉ mua có vài món trên tay. Rồi tôi lại nghe cái giọng lơ lớ, nhìn sang thấy ông-trẻ-thơ đang cố len ra cửa “không mua hàng” giữa hai anh bảo vệ to cao. Anh bảo vệ lôi trong túi áo khoác của ông-trẻ-thơ một lon bia, còn ông ta thì thanh minh thanh nga bằng thứ tiếng mà không ai hiểu. Có lẽ đã quen với cảnh này nên bảo vệ lắc đầu, thả ông ta đi.

Guillotière một bữa gần trưa trên đường Marseille, một người lang thang ngồi lọt thỏm vào một khoảng cửa hẹp của cửa tiệm bỏ trống, ăn bánh mì với hành échalotte và ớt tây. Định bụng mua cho ông ta một ổ bánh mì ở siêu thị Á châu nhưng tôi lại quên bẵng cho tới khi đến gần cửa Metro. Vậy là đành quay ra, ghé tiệm Kebab Cầu Vồng, tôi mua cho ông một cái Kebab-sốt-gì-cũng-được. Và anh bán hàng Ả Rập, đương nhiên là tóc cạo đều hai bên mái, trên chỏm vuốt gel như trái chôm chôm, quyết định sẽ cho sốt cà chua. “Đây là bữa trưa của ông, tôi chúc ông ngon miệng!” Ông-lang-thang không trả lời, trước mặt ông hình như tôi không tồn tại, nhưng cái Kebab thì có. Ông mở mảnh giấy bạc, cầm sợi salad đưa lên trời ngó nghiêng rồi bỏ vào miệng như con chim ngắm con sâu trước khi ăn.

Guillotière cũng bữa trưa hôm đó, ngay trước cửa bến Metro như thường lệ là một siêu thị mini phi-Casino, hàng hóa tùy bữa, hình thức bày dưới đất, nội dung gồm quần áo cũ, giày cũ, giỏ đẩy đi chợ, máy cát-sét cũ, máy sấy tóc tất nhiên cũng cũ, rồi thì cả remote, sạc pin điện thoại, đều cũ tất. Lực lượng mua bán gồm digan đàn ông, đàn bà kèm con trẻ, Ả rập tóc bôi gel, áo quần giày đều rất thể thao, kẻ đứng dựa gốc cây, người dựa vào bờ tường Casino, kẻ ngồi trên bệ đường tàu điện, số còn lại hoặc ngồi bệt dưới đất, hoặc chẳng dựa vào đâu. Thường lệ, những cuộc mua bán trả chác ở đây dùng đủ các loại ngôn ngữ. Còn hôm nay, siêu thị mini phi-Casino nói toàn tiếng Pháp. Thoạt đầu là hai anh trai đổ mớ yaourt chocolate lên đống quần áo trải dưới đất, và sau đấy là cãi nhau. Nhìn kỹ mới thấy các anh đeo băng Cảnh sát trên cánh tay trái. Sau yaourt chocolate là dầu nhớt các loại, được tưới đều lên quần jean, áo đầm, giày dép. Cái valise đựng mấy thứ máy móc điện tử cũ cũng được ăn yaourt chocolate nốt.

Trong khi ba cảnh sát đang tưới quần áo bằng dầu nhớt thì người còn lại làm một cuộc débat với anh digan. Anh digan đầu hói, tay cầm tờ báo cuộn lại, chỉ anh cảnh sát mà rằng: “Các anh ngăn cản chúng tôi lao động, các anh không để cho chúng tôi được sống.” Anh cảnh sát: “Đây không phải là lao động, đây là bán hàng trái phép, ở địa điểm cũng trái phép nốt.” Anh digan xòe tờ báo ra, chỉ hình bà Marie Le Pen: “À, tôi hiểu, thế nên các ngài vote cho Front National, thể nào mà bà ta thắng, tự hào thay cho các ngài!” Anh digan bỏ đi, anh cảnh sát nói với theo, gửi lời chúc ngày mới tốt lành, rồi anh lại giải thích về chuyện bất hợp pháp này với những người hiếu kỳ xung quanh. Bốn người vừa quay lưng đi thì một anh digan khác nhanh chóng vớ cái valise đồ điện tử chạy mất. Nhóm cảnh sát phải quay lại, vung roi điện dọa dẫm nhưng đống đồ cũng đã vơi đi kha khá. “Thế các anh định làm gì với đống đồ này?” – tôi hỏi. “Chúng tôi sẽ cho xe đến chở ra bãi rác. Nhưng cô biết đấy, đây là đồ ăn cắp được, và bán buôn như vầy là trái phép, phải dọn thôi.” “Tôi thấy thật khó cho họ bởi họ không có giấy tờ thì không thể lao động, mà không lao động thì vẫn phải kiếm cái gì đó ăn.” “Thì cũng chịu thôi.”

Thì cũng chịu thôi, Guillotière mà, ngày mai sẽ lại bán cần sa, sẽ có những cô da đen mặc áo hở hai phần ba vú cắt tóc cho những anh Ả Rập, tiệm Cầu Vồng vẫn bán Kebab tú-lề-xốt (tất cả các loại sốt) cho những bà người Á, vẫn Casino check túi xách khi ra vào kỹ lưỡng, và người ta vẫn nói với nhau bằng một thứ tiếng Pháp chonchon-maghreb-digan(*) – tiếng Pháp Guillotière.

*chonchon: người Tàu – vì họ phát âm tiếng Pháp không rõ, chữ nào nghe cũng như âm ch nên được gọi là chonchon. Maghreb: người Bắc Phi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *